Năm 2018, Ngân hàng DC ký hợp đồng tín dụng cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên ĐH vay số tiền 12 tỷ đồng, thời hạn vay là 01 năm. Đến kỳ hạn trả nợ nhưng Công ty ĐH không trả nợ. Năm 2021, Ngân hàng bán số nợ của Công ty ĐH cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên QLTS. Trong hợp đồng mua bán nợ có thể hiện nội dung, sau khi hợp đồng mua bán nợ được giao kết, khi được Công ty QLTS yêu cầu thì Ngân hàng phải khởi kiện vụ án để yêu cầu Tòa án giải quyết buộc công ty ĐH phải trả số nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho Công ty QLTS. Năm 2022, Ngân hàng nộp đơn khởi kiện, trong nội dung đơn khởi kiện thể hiện nguyên đơn là Công ty QLTS, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là Ngân hàng, bị đơn là Công ty ĐH. Đơn khởi kiện do đại diện hợp pháp của Ngân hàng ký tên và đóng dấu, kèm theo đơn khởi kiện là văn bản ủy quyền việc khởi kiện, tham gia giải quyết vụ án của Công ty QLTS cho Ngân hàng.

Trong quá trình tiếp nhận và xử lý đơn khởi kiện phát sinh hai quan điểm như sau:

Quan điểm thứ nhất tòa án tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo quy định tại điểm b, Khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự về quyền khởi kiện vụ án thì “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình”. Nội dung Điều luật quy định cơ quan, tổ chức có thể thông qua người đại diện hợp pháp để khởi kiện vụ án. Người đại diện hợp pháp có thể là người đại diện theo pháp luật hoặc người đại diện theo ủy quyền. Trong hợp đồng mua bán nợ và khi khởi kiện thì Công ty QLTS là chủ thể có quyền đã thực hiện việc ủy quyền khởi kiện cho Ngân hàng, do đó Ngân hàng có quyền khởi kiện vụ án. Mặt khác theo quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự cho phép đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Căn cứ vào quy định trên, Tòa án phải thụ lý vụ án theo quy định tại điểm b, Khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm thứ hai (cũng là quan điểm của người viết) thì tòa án trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm d, Khoản 3 Điều 191, Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Cụ thể, khi xem xét đơn khởi kiện cần xem xét về quyền khởi kiện vụ án quy định tại Điều 186 Bộ luật Tố tụng dân sự, ngoài ra cần xem xét phạm vi khởi kiện, hình thức, nội dung đơn khởi kiện. Trong đó theo quy định tại Khoản 3 Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “3. Cơ quan, tổ chức là người khởi kiện thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án. Tại mục tên, địa chỉ của người khởi kiện phải ghi tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức và họ, tên, chức vụ của người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó; ở phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó; trường hợp tổ chức khởi kiện là doanh nghiệp thì việc sử dụng con dấu theo quy định của Luật doanh nghiệp”. Đối chiếu với quy định tại Khoản 3 Điều 189 thì tại phần cuối đơn, người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu của cơ quan, tổ chức đó. Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định việc sử dụng con dấu của doanh nghiệp theo quy định của Điều lệ công ty. Điều 45 Luật Doanh nghiệp năm 2014 cũng quy định về nhiệm vụ của chi nhánh, văn phòng đại diện. Ngoài ra, cũng cần lưu ý nội dung hướng dẫn tại Công văn 38/KHXX ngày 29/3/2007 của TAND tối cao trong trường hợp người khởi kiện là các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân có thể có các đơn vị phụ thuộc như chi nhánh hoặc văn phòng đại diện thì tranh chấp phát sinh từ các giao dịch do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện mà người đứng đầu chi nhánh hoặc văn phòng đại diện (Giám đốc chi nhánh hoặc trưởng văn phòng đại diện) được ủy quyền khởi kiện thì tại phần cuối đơn có thể đóng dấu của chi nhánh, văn phòng đại diện. Như vậy Công ty QLTS và Ngân hàng DC là hai pháp nhân độc lập theo quy định tại Bộ luật Dân sự năm 2015, do đó Ngân hàng DC không có quyền ký tên vào đơn khởi kiện. Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án cần hướng dẫn và yêu cầu đương sự thực hiện đúng quy định của pháp luật. Trong trường hợp đương sự không thực hiện thì Tòa án huyện trả lại đơn khởi kiện theo quy định tại điểm d, Khoản 3 Điều 191, Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trên đây là vụ việc còn nhiều quan điểm khác nhau, rất mong nhận được ý kiến góp ý của quý đồng nghiệp và bạn đọc.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

sex

789bet

jun88

jun88

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex

sex